Luận giải mẫu 1 lá số sinh năm 1989

0
461
la so sinh năm 1989

Sau đây là bài luận giải của một học trò lớp Tử Vi Chân Cơ của Đào Đức Cường luận giải một lá số nam sinh năm 1989. Mời các bạn tham khảo

Tên Trò: Hồng Ngân.

Đề bài: Hãy luận tính cách của lá số này, và tổng quan cuộc đời (không cần luận hết 12 cung). Giới hạn 1500 chữ.

• Tên: Đào Đức Cường
• Sinh ngày 23 , Tháng 2 , Năm Mậu Thìn
• Giờ : 11:30 Giờ Ngọ
• Dương Nam
• Cục : Mộc Tam Cục
• Mệnh : Đại Lâm Mộc (Cây Trong Rừng Lớn)
• Năm hạn : 2019 Kỷ Hợi
• Sao hạn năm: Thái Dương 32 tuổi
• Cung Phi: Chấn
• Sao chủ mệnh : Liêm Trinh
• Sao chủ thân : Văn Xương
• Âm Dương Nghịch Lý
• Mệnh Cục Bình Hoà
• Thân Cư Mệnh

la so sinh năm 1989

Đương số là Dương Nam đóng Mệnh ở cung Dậu (âm) là Âm Dương Nghịch Lý.Tuổi trẻ được tính theo tiền vận đầu đời, được tình theo con số cục, cụ thể trong lá số là Mộc Tam Cục, tức là tiền vận được tính trước năm 33 tuổi. Ứng với yếu tố Âm Dương Nghịch Lý thì đường sự nghiệp công danh ở tiền vận sẽ có yếu tố lận đận, vất vả. Phải tính từ năm 33 tuổi trở ra thì hướng đi về sự nghiệp, công danh mới bình ổn hơn được. Chiếu theo lá số, đương số năm nay 32 tuổi vậy là đã bắt đầu có hướng đi rõ ràng hơn cho đường công danh, sự nghiệp của mình.

Mệnh Đại Lâm Mộc (Cây Trong Rừng Lớn), cục là Mộc Tam Cục. Giữa cách mệnh cục này trong tử vi gọi là Mệnh Cục bình hoà. Đối với những người mệnh cục bình hoà, tất cả những cái hiện tại và sau này có được vừa nhờ một phần độ số may mắn có quý nhân phù trợ, vừa nhờ một phần phải cố gắng, nỗ lực phấn đấu để đạt được nó. Hai yếu tố này có thể coi là song hành lẫn nhau, vừa nhờ thời thế có lợi vừa nhờ tự thân vận động mà đạt được thành quả. Thành công đến với những người này không nên thiếu sự chuẩn bị để đạt được kết quả tốt nhất để tránh được rủi ro thất bại, không nên làm việc thao cảm hứng.

Đương số sinh giờ Ngọ nên cung an thân xen vào tại cung mệnh. Gọi là Thân cư Mệnh. Hay còn gọi là Thân Mệnh đồng cung. Đây là mẫu người có lòng tin vào thiên mệnh (hay còn gọi là ý trời) rất mạnh. Mẫu người này ít tin vào quan niệm “Nhân định thắng thiên” vì Thân của họ đã neo vào Mệnh rồi. Một điểm thứ hai đáng kể là không có những biến đổi lớn lao nào trong suốt cuộc đời của họ. Bởi Mệnh ảnh hưởng mạnh vào tiền vận. Thân ảnh hưởng mạnh vào trung vận và hậu vận. Bởi vậy khi Thân và Mệnh đồng cung thì Mệnh và Thân đều ảnh hưởng chung vào cả cuộc đời từ lúc sinh ra cho đến lúc lìa đời. Có thể nói kiểu người này rất khó thay đổi bản tính, khá cứng đầu và luôn nhận định mình đúng, tự thân lập thân, khá bướng bỉnh, luôn giữ vững lập trường có thể dẫn đến bảo thủ. Có nghĩa là nếu đương số giàu có thì suốt đời giàu có, nếu nghèo thì sẽ nghèo suốt đời. Ở lá số có thể thấy cung mệnh cũng khá đẹp (tuy không phải quá đẹp), tức đương số từ nhỏ đến lớn đều ăn sung mặc sướng, sống trong gia đình khá giả, được hưởng phần hương hoả. Có chí lớn tha phương lập nghiệp, tánh can trường không muốn nhờ cậy vào ai dù là cha mẹ. Muốn tự tay mình lập nghiệp và mồ hôi nước mắt tạo ra. Tay trắng dựng lên cơ đồ.

*** Về tính cách đương số, Thái âm thủ mệnh, nhập miếu, gặp sao cát ở tam phương đến hội, chủ về hưởng thụ, nhất là hưởng thụ tinh thần. Tuy nhiên đương số sinh vào ban ngày, vào vào hạ huyền thì không cát tường lắm, vì đây là thời kỳ trăng khuyết dần, sẽ giảm phúc không tốt bằng sinh ban đêm.
Tuy nhiên Thái Âm Miếu địa gặp Hoá Quyền, Hoá Khoa là người ham học hỏi, tìm tòi, thích đọc sách, viết văn làm thơ ca hát, tính lãng mạn, dễ động lòng trước cái đẹp, thông minh, ôn hòa, rộng lượng bao dung.
Tam hợp Thiên tài, Thiên Khôi (ở quan lộc) là người học rộng nhiều tài, ưa sạch sẽ, mặt thì hơi vuông, thân hình cao vừa, tam hợp Thái dương ở Tài bạch thì mắt sẽ là điểm nổi bật nhất khuôn mặt và sẽ có tật ở mắt (loạn, cận…).
Vì có Hoá quyền, Hoá khoa đóng Mệnh nên một phần tài lộc do địa vị xã hội và học lực quyết định thế nên cần phát triển tiến bộ, trau dồi mở mang trí tuệ.
Tam hợp cô quả dù bên ngoài hoà đồng, vui vẻ nhưng nội tâm cô độc, cảm thấy không ai hiểu được mình, tự kỷ, một mình một thế giới, có thể nói là “hoà nhập nhưng không hoà tan”. Sáng có thể hò dô ta nhưng tối về “chỉ mình ta với nồng nàn”. Có tử Phù- Trực phù là người hay buồn bã, phiền muộn, lo nghĩ nhiều “ Tiền nhiều để làm gì?”

Thái Âm thủ mệnh dễ tiếp cận và quen biết nhiều người khác phái. Đặc biệt thích phụ nữ đẹp khi có Đào hoa đóng mệnh, tuy không có khuôn mặt đẹp nhưng rất có sức thu hút phái nữ. Đào hoa đóng mệnh đương số chắc chắn phải chịu một phần nghiệp duyên tiền kiếp. Tuy nhiên đồng cung với Nguyệt đức và tam hợp Thiên Đức, Phúc đức khắc chế được phần nào tính hoa nguyệt, dẫm đãng của Đào hoa, đi cùng Đào chỉ người có duyên, thu hút người khác phái, nhưng biết điểm dừng. Hoặc có thể chỉ người dâm mồm chứ không dám làm tới. Thích trong bụng nhưng không dám nói ra. )
Nguyệt Đức đóng cung mệnh chỉ người ôn hoà, nhân hậu, đức hạnh, đẹp nết, từ bi, hướng thiện hay giúp đỡ, làm phúc. Tam chiếu với Thiên đức, phúc đức, thiên quan, thiên phúc và có long đức đóng ở cung phúc đức là yếu tố của người thiện tâm, có căn tu. Có thể kiếp trước là tu sĩ, sư thầy hoặc hiền triết.
Thái Âm tam hợp Lộc Tồn ở tài bạch chủ về phú quý. Gặp Tam Thai, Hữu Bật thể làm tăng địa vị trong xã hội .
Tướng Quân đi với Hoá Quyền tại mệnh chỉ đương số là người cương trực, thẳng thắn, khá nóng tính, rất ngang tàng và khó khuất phục, nhiều lúc táo bạo và máu liều. Nóng lên là kiểu “bố mày chấp hết”. Đã thích là thích còn không thích là độp thẳng mặt luôn. Ghét lươn lẹo, dối trá, nịnh hót. Nhất là tật ách có Vũ khúc thì tính cách này càng mạnh hơn, có phần gia trưởng, thường cách biệt với người thân, ít bè bạn. Nhiều khi sai cứng đầu không chịu nhận. Lỳ lợm.
Có đẩu quân đóng mệnh và Tật ách xung chiếu thiên hình là người nghiêm nghị, lạnh lùng, khách quan, nguyên tắc và ít khi cả nể, coi trọng phép công, nội quy, quy chế. Không thích giao du bạn bè, tưởng nhiều bạn nhưng ít tri kỷ. Khó tính và cũng khó hiểu
Mệnh an vòng tràng sinh tại Thai thì sức khoẻ không được tốt lắm, dễ ốm yếu bệnh tật.

*** Về tật ách: Tật ách Vũ Khúc (M), Văn Khúc Văn Xương (V): Thông minh, học rộng, có tài năng, văn võ song toàn.
Phũ mồm, tính thẳng như ruột ngựa, ham thích quyền hành, tiền bạc, thích chỉ huy, lấn lướt người khác, đặc biệt là người dưới. Có tính nóng nảy, mạnh bạo, quả quyết, rất cương nghị và thẳng thắn. Tính hiếu thắng, thích là làm không ai cấm cản được.
Có bệnh về mắt.
Có bệnh về hô hấp, khí huyết, xương khớp, trĩ, tiêu hoá, gan mật hoặc có thể có bệnh về sinh lý.
Thích tán gái, dẻo mỏ, mồm mép tép nhảy, nói nửa đùa nửa thật dễ gây hiểu lầm. (Người ta gọi là đĩ mồm).
Xung chiếu với thiên hình, đồng cung với linh tinh người nhiều vết sẹo. Là người kỹ tính, khó tính, cầu toàn trái ngược với vẻ bề ngoài.

*** Về Di: Thiên Đồng Đắc địa ở Mão, ra ngoài mới tốt, không nên ở lâu một chỗ. Hay gặp quý nhân phù trợ. Dễ kiếm tiền và thăng tiến. Gặp nhièu người có địa vị, chức quyền giúp ích cho công danh sự nghiệp. Thích đi đây đi đó.

*** Về đường quan lộc, Thiên Lương toạ thủ Đắc địa là sao văn, thiên về quan văn, thích hợp nhất trong lĩnh vực văn, sư phạm, ăn nói. Đương số được quý hiển về công danh, có năng tài về sư phạm, ngoại giao hoặc chính trị, tư vấn, tham mưu, đồng cung với rất nhiều phúc tinh như Ân Quang, Thiên Quý, Phúc đức, Quốc Ấn, Thiên Đức, Thiên Thọ… cả đời may mắn, thóat khỏi tai họa dễ dàng, luôn có sự giúp đỡ của người trên, giải trừ nhiều tai ách, hung hãn. Đồng thời nói lên cốt cách từ bi, nho phong đạo cốt, tâm địa bác ái, nhân từ của nhà tu, của bậc chính nhân quân tử, lấy lễ đãi người, dùng sự thành thật, khiêm cung để xử thế.
Tuy nhiên gặp Triệt khiến cho đương số 30 năm đầu tiên sự nghiệp long đong lận đận. Tuy nhiên Dương Nam mà gặp Triệt ở cung Sửu là cung âm thì giảm độ tốt đẹp đi 1/3. Nếu không gặp triệt thì công danh sự nghiệp rực rỡ, như ý muốn, có thể còn làm quan to.
Đặc biệt có cặp sao Thiên Thọ – Thiên Tài có nghĩa là Nhân – Quả, tức là nên làm việc có tâm thì quả mới ngọt. Tài- Thọ ở đâu thì tự biết sửa đổi bản thân để “xu cát tị hung”. Nên hết sức lưu tâm.

*** Về Tài bạch có Thái Dương Miếu địa toạ thủ, Thiếu Dương làm tăng thêm phần sang cho Thái Dương. Cùng Mệnh, Tài tạo thành cách “Nhật nguyệt tả hữu” rất giầu có, kiếm tiền dễ dàng.
Tiền tài do Thái Dương, Thiên Lương (cung quan lộc) đều là do miệng lưỡi mang lại. Chứng tỏ đương số là người làm về ăn nói, có uy tín. Đồng cung Thiên Hỉ khiến cho đương số hay có lộc lá từ người khác đem đến, Lộc tồn Cô thần chủ về tích luỹ được tiền bạc.
Tuy nhiên Tài bạch hội nhiều sát tinh như Không Khiếp (Đ), Thiên Không, Kiếp Sát…. Chứng tỏ bố đương số mất sớm, mất trước mẹ. Tuy nhiên Không Kiếp Đắc Địa ở Tài bạch phát như dã lôi, đã phát thì cực vượng nhưng tàn thì cũng nhanh chóng. Có nghĩa hoạnh phát nhanh chóng một thời, nhưng về sau phá sản cũng rất nhanh. Thường thường kiếm tiền bằng những phương cách táo bạo, liều lĩnh. Đương số nên tranh thủ thời vận để làm giàu. Biết người biết ta trăm trận trăm thắng.

Năm nay Lưu Thái Tuế phát động ở cung tài Bạch, sao Hạn năm Thái Dương. Năm nay làm ăn thuận lợi, hoạch phát. Nhưng nên cẩn thận đầu tư đúng chỗ.

Ở tài bạch còn có “Thiên việt, Thiên phúc, Thiên hỉ” đã ngầm báo cho đương số lưu ý về việc kiếm tiền và sử dụng tiền. Nếu sử dụng không đúng cách sẽ mang lại phiền toái, mệt mỏi.

Mệnh Tài Quan Di của người này hội họp nhiều sao Thiên như Thiên quý, Thiên khôi, Thiên đức, Thiên thọ, Thiên hỉ, Thiên quan, Thiên Phúc và các sao Đức như Nguyệt Đức, … chứng tỏ đương số là người có căn tu. Kiếp này dùng để trả nợ đời hoặc hoàn thành một sứ mệnh nào đó. Nên chú ý cách ăn nói, đối nhân xử thế cho đúng đạo làm người thì sẽ có nhiều phước báo, biến hoạ thành phúc.

Viết đến đây đã gần 2000 từ rồi nên về các cung khác e xin phép nói qua 

*** Về Phúc Đức không tốt lắm, hay khổ tâm. Cự Môn toạ Thủ gặp tuần chủ về thị phi, phiền toái. Trong nhà nữ giới thường khá hơn nam giới.
Lao tâm lao lực, tuy phú quý nhưng khống lâu bền.

*** Về Thê: Hôn nhân thuận lợi, vì yêu mà đến. Thiên cơ toạ thủ đồng cung với Thiên Việt. Vợ là người ưa nhìn, thông minh, khoé léo, có cơ trí, phù hợp với các công việc tổ chức, liên quan đến sổ sách kế toán. Vợ khéo tay, đảm đang. Thanh Long Hoá Kỵ thì có tính hay ghen. Vợ chồng hay bất đồng quan điểm. Mẹ chồng nàng dâu không hợp nhau.

*** Về Nô Bộc: Bạn bè ít, nhiều bè ít tri kỷ, hay làm ơn mắc oán, bị nói xấu, đâm sau lưng. Hay bị bạn bè liên lụy hoặc tiểu nhân đố kị, thuộc hạ trộm cắp, bất lương.
Tuy nhiên cũng có vài tâm giao. Bạn bè tốt toàn là từ phương xa, hữu duyên mà thành tri kỷ.

*** Phụ Mẫu: Cha mất sớm trước mẹ, nhà có của nả, tuy nhiên không hợp bố mẹ, mẹ khó tính cầu toàn, Tham Lang ở Phụ mẫu gặp tuần dễ bố mẹ đến với nhau sau một lần đò. Bố mẹ năm nay cẩn thận va chạm, tai nạn hoặc dao kéo.

*** Huynh đệ : Đông anh em, nhưng khác dòng, không hợp tính nhau và xa cách.

*** Tử Tức : Có con trai nhưng sau không hợp con, sẽ có hỏng sảy (Tang môn H). Con khoẻ mạnh, ăn tốt hoặc kén ăn. Sau con thích ăn chơi và khá phá phách.

*** Điền trạch: Cơ nghiệp buổi đầu có khó khăn, nhưng về sau giữ vững và có của nả, đất đai tuy nhiên không được như mong muốn. Một phần do con phá. (nhưng so với nhiều người là giàu lắm rồi).

P/s: bài luận gần như hoàn hảo chỉ có điểm bị ngược đó là Lưu Thái Tuế năm nay động cung Phúc Đức chứ k phải động cung Tài Bạch có thể do nhầm lẫn chút. Lẽ ra chấm 10 điểm nhưng nhầm chi tiết này nên chỉ còn được 8 thôi

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here